Quảng Ninh: Hành trình xây dựng đô thị xanh, hiện đại

Quảng Ninh đang thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân. Đây là nền tảng để thành phố hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045, trở thành địa phương phát triển xanh, hiện đại, có quản trị môi trường thông minh, năng lực thích ứng vượt trội và là một trong những hình mẫu phát triển xanh của Việt Nam.

Xanh hóa các động lực tăng trưởng

Với một địa bàn có lịch sử phát triển lâu dài gắn với khai thác than như Quảng Ninh, chuyển đổi xanh không đồng nghĩa với việc lập tức loại bỏ những ngành kinh tế truyền thống đang giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất. Vấn đề cốt lõi là đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, kiểm soát tác động môi trường và phục hồi không gian sau khai thác.

Tại Công ty CP Than Núi Béo, những khu vực từng là khai trường lộ thiên, bãi thải và điểm phát sinh bụi, tiếng ồn đang dần được phủ xanh sau quá trình hoàn nguyên môi trường. Sự thay đổi ấy không đơn thuần nằm ở diện mạo cảnh quan, mà là quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất, ứng dụng công nghệ và từng bước đưa yêu cầu bảo vệ môi trường trở thành một phần trong hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp.

bqn_tl_nui-beo.jpg
Khai trường khai thác lộ thiên trước đây của Công ty CP Than Núi Béo đã được hoàn nguyên, trở thành những cánh rừng xanh mát.

Từ năm 2019, Than Núi Béo chuyển sang khai thác hoàn toàn bằng phương pháp hầm lò. Cùng với việc áp dụng các công nghệ hầm lò tiên tiến của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), như cơ giới hóa đồng bộ, hệ thống điều hành tập trung, kiểm soát khí mỏ và an toàn lao động, Than Núi Béo cũng nỗ lực thực hiện hoàn thổ, trồng cây tại các khu vực kết thúc khai thác lộ thiên. Những diện tích từng chịu sức ép lớn về bụi và tiếng ồn được cải tạo, mở ra khả năng tích hợp vào quy hoạch phát triển đô thị, dịch vụ trong tương lai.

Theo ông Phạm Bá Tước, Phó Giám đốc Công ty CP Than Núi Béo, mỏ được Bộ Công Thương xếp hạng khí mê-tan loại I, tức hàm lượng thấp. Dù vậy, doanh nghiệp vẫn triển khai đầy đủ hệ thống hút, xử lý khí mê-tan nhằm bảo đảm an toàn và giảm phát thải. Công tác hoàn nguyên, trồng cây xanh, bảo vệ môi trường được thực hiện theo quy định, gắn với các cam kết phát triển bền vững.

Thực tiễn tại Than Núi Béo cho thấy trách nhiệm môi trường không thể chỉ được đánh giá qua những hạng mục xử lý riêng lẻ. Đó phải là yêu cầu xuyên suốt, từ lựa chọn công nghệ, tổ chức sản xuất, đến quản lý chất thải, cải tạo mặt bằng và sử dụng hiệu quả không gian sau khai thác.

Chủ tịch Công đoàn Công ty CP Than Núi Béo Nguyễn Tiến Nhương cho biết: Diện mạo xanh, sạch của mỏ có thể khiến nhiều người ngạc nhiên nếu chưa từng đến tận nơi. Từ cổng mỏ đến các tuyến đường nội bộ đều được giữ gìn sạch sẽ, phủ màu xanh của cây cối. Đó là minh chứng cho sự chú trọng của doanh nghiệp đối với công tác bảo vệ môi trường. Đặc biệt, với vị trí gần khu dân cư trung tâm thành phố Quảng Ninh, việc kiểm soát tốt các tác động đến môi trường là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp duy trì hoạt động và phát triển bền vững.

bqn_tr_nb5jpg.jpg
Mặt bằng +35 của Công ty CP Than Núi Béo được đầu tư trồng cây phủ xanh tạo cảnh quan môi trường như công viên. Ảnh: Hoàng Hiền (Công ty CP Than Núi Béo)

Không chỉ riêng ở Than Núi Béo, tại các doanh nghiệp khác của TKV, cơ giới hóa, tự động hóa, hệ thống thông gió công nghệ cao và kiểm soát khí mỏ tập trung đang được áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả khai thác ở những diện vỉa khó, đồng thời cải thiện điều kiện và mức độ an toàn trong sản xuất. Việc ứng dụng công nghệ cho phép doanh nghiệp tổ chức nguồn lực hiệu quả hơn, giảm hao phí và hạn chế những tác động bất lợi đến môi trường.

Từ những chuyển động trong ngành Than, có thể thấy chuyển đổi xanh cần được nhìn nhận như một quá trình đổi mới phương thức tạo ra giá trị. Cùng một nguồn tài nguyên, nếu được khai thác bằng công nghệ phù hợp, quản lý chặt chẽ và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả kinh tế sẽ được nâng lên, trong khi sức ép với môi trường từng bước được kiểm soát.

bqn_tl_2501086-img-0894-13223724.jpg
Hệ thống xử lý nước thải được đầu tư đồng bộ tại KCN Sông Khoai.

Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Quảng Ninh. Sau thời gian dài dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, thành phố đang mở rộng các động lực tăng trưởng từ công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao, kinh tế biển, logistics, các khu công nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn và năng lượng sạch. Cùng với sự thay đổi về cơ cấu ngành nghề, yêu cầu xanh hóa được đặt ngay trong quy hoạch, lựa chọn dự án, tổ chức hạ tầng và vận hành sản xuất.

Những con số tăng trưởng cho thấy công nghiệp chế biến, chế tạo đang trở thành một động lực đáng chú ý trong phát triển kinh tế của Quảng Ninh. Trong 9 tháng năm 2026, giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là 26,67%, đóng góp 3,82 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; chỉ số sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 33,59%. Cũng trong 9 tháng, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của Quảng Ninh tăng 12,54%; riêng quý III tăng 15,04%.

bqn_tl_1q0a4988.jpg
Lắp ráp xe đạp xuất khẩu tại Công ty TNHH Junshun Việt Nam (KCN Đông Mai). Ảnh: Mạnh Trường

Nếu tốc độ tăng trưởng cao đi kèm mức tiêu hao tài nguyên lớn và chi phí môi trường gia tăng, hiệu quả phát triển sẽ khó duy trì trong dài hạn. Vì vậy, xanh hóa công nghiệp không thể chỉ dừng ở việc lắp đặt hệ thống xử lý chất thải sau sản xuất. Yêu cầu này cần được triển khai trong toàn bộ chuỗi hoạt động, từ lựa chọn công nghệ, thiết kế dây chuyền, quản lý nguyên liệu, đến sử dụng năng lượng, tuần hoàn nước và xử lý sản phẩm sau sử dụng.

Đặc biệt, tiêu chí xanh cần được tính đến ngay từ khâu lựa chọn và thẩm định dự án đầu tư. Vì vậy, Quảng Ninh định hướng đưa các yêu cầu về sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và tiêu dùng bền vững vào quá trình xem xét các quyết định đầu tư công và đầu tư tư nhân. Khi tác động môi trường được đánh giá từ đầu, những rủi ro và chi phí điều chỉnh trong quá trình vận hành có thể được hạn chế; đồng thời, nguồn lực đầu tư có điều kiện hướng vào các dự án phù hợp hơn với mục tiêu phát triển bền vững.

Thiết lập chuẩn xanh cho phát triển

Chuyển đổi xanh chỉ tạo ra chuyển biến thực chất khi được cụ thể hóa bằng mục tiêu, lộ trình và trách nhiệm thực hiện. Quảng Ninh xác định mục tiêu đến năm 2030 là nâng cao hiệu quả quản trị môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro thiên tai; cải thiện rõ rệt chất lượng môi trường sống; bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái và đa dạng sinh học; kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải lớn, phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm, suy thoái môi trường.

Đáng chú ý, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế các-bon thấp được thành phố xác định là những định hướng quan trọng của tăng trưởng; sử dụng tài nguyên hiệu quả và nâng cao năng lực chống chịu là những yêu cầu gắn liền với bảo đảm an ninh môi trường, phát triển bền vững.

Về tầm nhìn đến năm 2045, Quảng Ninh hướng tới trở thành địa phương phát triển xanh, hiện đại, có môi trường sống chất lượng cao, quản trị môi trường thông minh và năng lực thích ứng vượt trội. Kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp được xác định là động lực tăng trưởng chủ đạo; thành phố phấn đấu trở thành một trong những hình mẫu phát triển xanh của Việt Nam, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển bền vững và phát thải ròng bằng “0” của đất nước.

bqn_tr_ha-tang-hien-dai-tai-cang-hang-khong-quoc-te-van-don.jpg
Hạ tầng hiện đại, cảnh quan môi trường xanh, sạch tại Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, góp phần tạo nên diện mạo khang trang, văn minh và thân thiện với hành khách.

Để hiện thực hóa định hướng đó, Quảng Ninh xác định tỷ lệ chi sự nghiệp bảo vệ môi trường trong tổng chi ngân sách hằng năm tối thiểu đạt 2%; các chỉ tiêu về chất thải cũng hướng đến giảm dần phương thức xử lý kém bền vững. Thành phố đặt mục tiêu tỷ lệ che phủ rừng trên 50%, đồng thời nâng cao chất lượng rừng; tỷ trọng kinh tế xanh trong GRDP đạt 10% hoặc đạt, vượt giá trị chỉ tiêu được giao.

Trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm, thành phố sẽ tăng cường kiểm soát các nguồn phát sinh nước thải, khí thải lớn; nâng cao chất lượng thẩm định, cấp phép môi trường; kiểm soát chặt công nghệ, thiết bị có nguy cơ lạc hậu, gây ô nhiễm và tiêu hao nhiều tài nguyên. Quan điểm của thành phố là “kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

Cùng với kiểm soát tại nguồn, Quảng Ninh định hướng đầu tư, nâng cấp hạ tầng thu gom, trung chuyển, tái chế và xử lý chất thải, trong đó có rác thải đại dương; tổ chức phân loại chất thải rắn sinh hoạt từ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phù hợp với điều kiện địa phương. Việc giảm sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần, thúc đẩy lối sống xanh, tiêu dùng xanh và tiết kiệm năng lượng cũng được đưa vào nhóm nhiệm vụ triển khai trong giai đoạn 2026-2030.

Với đặc thù có không gian đô thị, biển, đảo, rừng và di sản thiên nhiên, Quảng Ninh cũng đặt ra yêu cầu bảo tồn hệ sinh thái trong mối quan hệ hài hòa với phát triển kinh tế. Thành phố yêu cầu quản lý chặt các khu bảo tồn và khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao; bảo vệ các hệ sinh thái rừng, biển, ven biển, đảo, trong đó có vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, Khu bảo tồn biển Cô Tô, đảo Trần và khu bảo tồn đất ngập nước Đồng Rui. Các giải pháp dựa vào tự nhiên, phục hồi hệ sinh thái, phát triển các bể hấp thụ các-bon xanh, sinh kế bền vững và du lịch sinh thái cũng được xác định là nhiệm vụ trong giai đoạn tới.

Đối với một địa phương phát triển mạnh du lịch, bảo tồn thiên nhiên không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn liên quan trực tiếp đến sức hấp dẫn của điểm đến và chất lượng tăng trưởng dịch vụ. Giữ gìn cảnh quan, kiểm soát chất thải, bảo vệ hệ sinh thái biển và nâng cao chất lượng môi trường sống là những điều kiện để các giá trị tự nhiên tiếp tục đóng góp cho phát triển kinh tế của thành phố.

bqn_tl_1.jpg
Quảng Ninh quan tâm bảo vệ nghiêm ngặt các hệ sinh thái rừng, biển, ven biển, đảo, trong đó có vịnh Hạ Long. Ảnh: Đỗ Giang

Ứng phó với biến đổi khí hậu cũng được Quảng Ninh xác định là nhiệm vụ gắn liền với quá trình phát triển. Thành phố sẽ rà soát, cập nhật phương án phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai phù hợp với đặc điểm từng khu vực; từng bước di dời người dân khỏi những nơi có nguy cơ cao xảy ra sạt lở, lũ quét, ngập sâu, ảnh hưởng của nước biển dâng, đồng thời bảo đảm sinh kế tại nơi ở mới. Cùng với đó, chú trọng phát triển đô thị có khả năng chống chịu trước các hiện tượng thời tiết cực đoan, tập trung xử lý tình trạng ngập úng do mưa lớn, triều cường và nâng cao khả năng bảo vệ các công trình hạ tầng thiết yếu trước tác động của bão, lũ và biến đổi khí hậu.

Từ đổi mới công nghệ trong khai thác than, phát triển công nghiệp công nghệ cao, đến kiểm soát nguồn thải, bảo tồn hệ sinh thái và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, Quảng Ninh đang đặt ra yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển: Tăng trưởng phải đi đôi với sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo đảm an toàn môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân.

Chuyển đổi xanh vì thế cần trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong lựa chọn mô hình tăng trưởng, thu hút đầu tư và quản trị phát triển, thay vì chỉ là giải pháp xử lý những tác động tiêu cực sau sản xuất. Với sự chủ động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, năng lực quản lý, kiểm soát môi trường ngày càng được nâng cao của chính quyền và sự tham gia tích cực của cộng đồng, Quảng Ninh có thêm động lực duy trì tăng trưởng, cải thiện chất lượng sống, từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát triển xanh, hiện đại và bền vững.

Lê Trần – Theo Báo Quảng Ninh