
Một hộ gia đình sử dụng đất lấn, chiếm từ năm 1999, đến nay đã 27 năm, mới làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được yêu cầu xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời nộp lại số lợi bất hợp pháp trong suốt thời gian sử dụng đất. Yêu cầu này có đúng quy định pháp luật?
Đây là vấn đề mới đây đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường giải đáp trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Để hiểu rõ hơn, người sử dụng đất cần lưu ý những quy định sau:
1. Thế nào là lấn đất, chiếm đất?
Theo khoản 9 và khoản 31 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024:
- Chiếm đất là việc sử dụng đất do Nhà nước đã quản lý mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc sử dụng đất của người sử dụng đất hợp pháp khác mà chưa được người đó cho phép.
- Lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép.
Việc xác định một trường hợp có thực sự là lấn đất, chiếm đất hay không phải căn cứ vào hồ sơ địa chính, giấy tờ quản lý đất đai và quá trình sử dụng đất thực tế. Không thể chỉ dựa vào việc người dân đã sử dụng đất lâu năm hoặc hiện trạng đất đang có nhà ở để kết luận.
2. Sử dụng đất lấn, chiếm từ lâu có đương nhiên được miễn xử phạt không?
Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 của Chính phủ, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là 02 năm.
Tuy nhiên, khoản 2 Điều 3 Nghị định này quy định thời điểm tính thời hiệu phụ thuộc vào việc hành vi vi phạm đã kết thúc hay vẫn đang được thực hiện:
- Đối với hành vi đã kết thúc, thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.
- Đối với hành vi đang thực hiện, thời hiệu được tính từ thời điểm người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm.
Do đó, cần phân biệt giữa hành vi vi phạm đã chấm dứt và hành vi vi phạm vẫn đang tiếp diễn. Việc đã sử dụng đất trong nhiều năm không tự động đồng nghĩa với việc hết thời hiệu xử phạt.
Đối với hành vi lấn, chiếm đất, cần xác định đúng tính chất, thời điểm và tình trạng thực tế của hành vi để áp dụng quy định về thời hiệu phù hợp.
3. Có phải nộp lại số lợi bất hợp pháp cho toàn bộ thời gian lấn, chiếm đất?
Đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý, bởi thời hiệu xử phạt và thời gian tính số lợi bất hợp pháp là hai vấn đề pháp lý khác nhau.
Theo điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP, số lợi bất hợp pháp đối với hành vi lấn đất hoặc chiếm đất được xác định theo công thức:
Số lợi bất hợp pháp = (Diện tích đất vi phạm × Giá đất theo bảng giá đất × Số năm vi phạm) / 70 năm.
Trong đó:
- Diện tích đất và giá đất được xác định tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính.
- Loại đất được xác định theo hiện trạng sử dụng tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính.
- Số năm vi phạm được xác định từ thời điểm lấn đất hoặc chiếm đất đến thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều được tính số lợi bất hợp pháp từ thời điểm bắt đầu vi phạm.
Khoản 2 Điều 35 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP quy định riêng về việc xác định số lợi bất hợp pháp đối với hành vi vi phạm xảy ra trước ngày Nghị định có hiệu lực (04/10/2024):
Thời gian tính số lợi bất hợp pháp phải nộp được tính từ khi Nghị định có quy định hành vi vi phạm phải nộp số lợi bất hợp pháp có hiệu lực thi hành; hoặc tính từ ngày xảy ra vi phạm nếu vi phạm xảy ra sau ngày văn bản xử phạt vi phạm hành chính về đất đai đầu tiên có quy định phải nộp số lợi bất hợp pháp có hiệu lực.
Như vậy, không thể mặc nhiên yêu cầu người dân nộp số lợi bất hợp pháp cho toàn bộ 27 năm sử dụng đất mà không xem xét quy định chuyển tiếp tại khoản 2 Điều 35 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP.
Cơ quan có thẩm quyền cần xác định thời điểm xảy ra vi phạm, quy định pháp luật áp dụng đối với hành vi đó và thời gian được phép tính số lợi bất hợp pháp.
4. Người dân cần làm gì khi bị yêu cầu xử phạt và nộp tiền?
Khi được yêu cầu xử lý vi phạm về lấn, chiếm đất, người dân nên:
- Đề nghị cơ quan có thẩm quyền xác định rõ hành vi vi phạm, căn cứ pháp lý và thời điểm được xác định là bắt đầu vi phạm.
- Yêu cầu làm rõ căn cứ tính số lợi bất hợp pháp, đặc biệt là khoảng thời gian tính tiền theo khoản 2 Điều 35 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP.
- Cung cấp các giấy tờ liên quan đến nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, hồ sơ địa chính, quyết định giao đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất và các tài liệu khác có liên quan.
Kết luận: Việc xử phạt hành vi lấn, chiếm đất và yêu cầu nộp lại số lợi bất hợp pháp phải được xem xét trên cơ sở hồ sơ, diễn biến thực tế và các quy định pháp luật áp dụng cho từng trường hợp. Đặc biệt, cần phân biệt thời hiệu xử phạt với thời gian tính số lợi bất hợp pháp để tránh áp dụng máy móc, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
📚 Căn cứ pháp lý:
- Luật Đất đai năm 2024, khoản 9 và khoản 31 Điều 3.
- Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 của Chính phủ, khoản 1 và khoản 2 Điều 3; điểm b khoản 2 Điều 6; khoản 1 Điều 13; khoản 2 Điều 35.
Nguồn tham khảo: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ – chuyên mục Giải đáp chính sách.
Minh Trang





