(LSVN) – Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật liên quan và thực tiễn giải quyết vật chứng là tài sản chung của vợ chồng khi một bên phạm tội, bên còn lại không có lỗi, bài viết đưa ra những điểm còn vướng mắc từ hệ thống quy phạm đến khả năng tổ chức thi hành trên thực tế. Làm rõ bản chất của chế định sở hữu chung hợp nhất qua các bản án thực tiễn, bài viết đề xuất cơ chế xác định nghĩa vụ tài chính cá nhân của bị cáo và một số giải pháp tháo gỡ vướng mắc, góp phần hoàn thiện pháp luật.
Trong tố tụng hình sự, chế định xử lý vật chứng đóng vai trò quan trọng nhằm tước bỏ công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và góp phần phòng ngừa vi phạm. Theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 – BLHS) và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021 – BLTTHS), phương tiện trực tiếp dùng vào việc phạm tội thuộc đối tượng bị tịch thu sung ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định này thực tế đặt ra nhiều vướng mắc trong trường hợp vật chứng là tài sản chung của vợ chồng, khi chỉ một bên thực hiện hành vi phạm tội còn bên còn lại không biết và không có lỗi đố với hành vi phạm tội của người còn lại. Tình huống này phản ánh sự thiếu tương thích giữa hai nhóm quy phạm: một bên là mục tiêu trừng trị tội phạm theo pháp luật hình sự; một bên là yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu tư nhân theo Điều 32 Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Đáng chú ý, khối tài sản chung của vợ chồng có bản chất pháp lý hoàn toàn khác biệt so với tài sản thuộc sở hữu riêng của bên thứ ba hoặc tài sản thuộc sở hữu chung theo phần.
Đối với tài sản của người thứ ba, pháp luật đã có cơ chế tương đối rõ ràng: nếu người thứ ba ngay tình thì tài sản được trả lại; nếu có lỗi trong việc để tài sản bị sử dụng vào việc phạm tội thì tài sản có thể bị tịch thu theo khoản 3 Điều 47 BLHS, đồng thời họ có thể xem xét khởi kiện dân sự đòi bị cáo bồi thường thiệt hại theo quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại Điều 584 BLDS năm 2015. Ngược lại, đối với tài sản chung của vợ chồng, người vợ hoặc chồng không có lỗi chưa bao giờ là “người thứ ba” đứng ngoài khối tài sản. Trong bối cảnh Bộ luật Tố tụng hình sự đang được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung liên quan đến quy định về vật chứng, việc rà soát quy định hiện hành và khảo sát thực tiễn áp dụng để tìm kiếm phương hướng xử lý phù hợp là yêu cầu có ý nghĩa thiết thực.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Nhìn từ hệ thống pháp luật hiện hành, khoản 3 Điều 47 BLHS quy định vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì “có thể bị tịch thu”. Cụm từ “có thể bị tịch thu” thể hiện tính chất tùy nghi trong quyền xem xét, quyết định của Tòa án, không mang tính chất bắt buộc tuyệt đối. Đối với tài sản chung của vợ chồng, khoản 2 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Điều 213 BLDS năm 2015 xác định đây là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất. Về bản chất lý luận, sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng là hình thức sở hữu chung mà trong đó quyền sở hữu của mỗi bên vợ, chồng tồn tại song hành, hợp nhất và không được xác định theo phần đối với khối tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Theo Điều 217 và Điều 218 BLDS năm 2015, các đồng sở hữu chung hợp nhất có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt ngang nhau đối với tài sản chung, đặc biệt việc định đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình đòi hỏi sự thỏa thuận bằng văn bản của cả hai vợ chồng. Sự mâu thuẫn xuất hiện khi quy định tịch thu đối vật của luật hình sự can thiệp vào một khối tài sản chung hợp nhất không thể phân chia cơ học.
Từ các quy định mang tính nguyên tắc nêu trên, thực tiễn xét xử thời gian qua ghi nhận ba hướng xử lý chủ yếu đối với vật chứng là tài sản chung của vợ chồng, thể hiện rõ qua các bản án và văn bản chỉ đạo nghiệp vụ thực tế.
Hướng thứ nhất là tuyên trả lại toàn bộ tài sản hiện vật cho người đồng sở hữu không có lỗi. Đơn cử tại vụ án Trần Phước Nh., bị cáo Nh. sử dụng xe mô tô BKS 60C1-046.61 (tài sản chung của bị cáo và vợ là chị Phan Ngọc Minh C.) làm phương tiện phạm tội. Bản án hình sự sơ thẩm số 208/2020/HS-ST ngày 06/5/2020 của TAND TP. B đã tuyên trả lại chiếc xe mô tô cho chị C. Hướng xử lý này sau đó được Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại HCM chấp nhận tại Quyết định Giám đốc thẩm số 17/2022/HS-GĐT ngày 14/02/2022, quyết định hủy một phần bản án phúc thẩm và giữ nguyên phần bản án sơ thẩm nêu trên với lý do chiếc xe có giá trị không lớn, là phương tiện phục vụ sinh hoạt, lao động thiết yếu của người vợ không có lỗi.
Hướng thứ hai là tuyên tịch thu toàn bộ tài sản hiện vật (hoặc toàn bộ giá trị tài sản) nộp ngân sách nhà nước. Điển hình tại vụ án Nguyễn Trọng Đ, bị cáo Đ dùng xe ô tô Honda City BKS 60A-… (tài sản chung với vợ là chị Nguyễn Thị Ng) vận chuyển 4.000 bao thuốc lá lậu. Bản án sơ thẩm số 252/2021/HS-ST ngày 06/05/2021 của TAND B và Bản án phúc thẩm số 316/2021/HS-PT ngày 23/12/2021 của TAND tỉnh ĐN đều tuyên tịch thu toàn bộ chiếc xe ô tô. Tương tự, tại vụ án Đỗ Quốc C. và đồng phạm phạm tội “Xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông”, Bản án hình sự phúc thẩm số 268/2024/HS-PT ngày 20/06/2024 của TAND cấp cao tại ĐN (chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND cấp cao tại ĐN) đã sửa bản án sơ thẩm của TAND tỉnh Q., tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước toàn bộ các xe ô tô là tài sản chung của các bị cáo và vợ, với lý do các xe ô tô là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên bắt buộc phải tịch thu toàn bộ theo khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Hướng thứ ba là xác định nghĩa vụ tài chính tương ứng với phần giá trị tài sản thuộc sở hữu của người phạm tội bằng cách tuyên tịch thu 1/2 giá trị tài sản nộp ngân sách nhà nước và trả lại 1/2 giá trị cho người đồng sở hữu không có lỗi. Hướng xử lý này từng được TAND tỉnh ĐN áp dụng tại Bản án hình sự phúc thẩm số 292/2020/HS-PT ngày 12/08/2020 (vụ Trần Phước Nh.), và TAND tỉnh Q. áp dụng tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 12/04/2024 (vụ Đỗ Quốc C. và đồng phạm). Dù vậy, trong công tác thi hành án, thực tiễn ghi nhận việc tuyên án theo Hướng thứ ba vẫn phát sinh bế tắc nghiêm trọng. Tại vụ án Trần Phước Nh., Chi cục Thi hành án dân sự TP. B.H đã có văn bản báo cáo không thể thực hiện được việc trả lại 1/2 giá trị tài sản do hiện vật không thể phân chia cơ học và người đồng sở hữu không đồng ý bán đấu giá, dẫn đến việc TAND cấp cao tại Hồ Chí Minh phải xét xử giám đốc thẩm hủy phần bản án phúc thẩm về vật chứng. Đồng thời, tại Thông báo số 75/TB-VC2-VI ngày 07/10/2024 về rút kinh nghiệm công tác kiểm sát xét xử vụ án hình sự, VKSND cấp cao tại ĐN cũng xác định việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tịch thu 1/2 giá trị xe và trả lại 1/2 giá trị cho vợ các bị cáo là không đúng quy định pháp luật.
Song song với thực tiễn xét xử, các cơ quan tư pháp trung ương cũng đã có một số văn bản trao đổi nghiệp vụ nhằm định hướng áp dụng pháp luật. Công văn số 2160/VKSTC-V14 ngày 05/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn giải đáp vướng mắc theo hướng phân hóa dựa trên yếu tố lỗi, trường hợp người vợ/chồng không có lỗi thì “có thể không tịch thu phần giá trị tài sản thuộc sở hữu của vợ/chồng”. Thông báo số 75-VC2-V1 ngày 07/10/2024 của VKSND cấp cao tại Đà Nẵng cũng lưu ý rút kinh nghiệm về việc bảo vệ quyền tài sản hợp pháp của người đồng sở hữu ngay tình. Về phía Tòa án nhân dân tối cao, tại Công văn số 176a/TANDTC-PC tháng 9/2024 xác định TANDTC đang tổng kết thực tiễn áp dụng quy định về xử lý vật chứng, trường hợp phát sinh vướng mắc sẽ nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất. Cần thấy rằng, dù chưa có giá trị pháp lý bắt buộc áp dụng chung như các văn bản quy phạm pháp luật, những văn bản trao đổi nghiệp vụ nêu trên thể hiện sự thống nhất cao về mặt chỉ đạo nghiệp vụ trong việc bảo vệ quyền lợi của người đồng sở hữu không có lỗi. Qua phân tích các hướng xử lý trong thực tiễn áp dụng, có thể thấy mỗi hướng giải quyết đều phản ánh những góc nhìn khác nhau. Hướng thứ nhất bảo đảm tốt quyền sở hữu và tư liệu sinh sống của người không có lỗi, thuận lợi cho khâu thi hành án, nhưng chưa thu hồi được phần giá trị tài sản thuộc sở hữu của người phạm tội dùng vào việc vi phạm. Hướng thứ hai đáp ứng yêu cầu trừng trị tội phạm và tước đoạt phương tiện vi phạm, nhưng ảnh hưởng đến quyền tài sản hợp pháp của công dân không có lỗi, chưa phản ánh đầy đủ nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm và dễ dẫn đến việc bản án bị kháng nghị xem xét lại như trường hợp Quyết định kháng nghị Giám đốc thẩm ngày 23/9/2022 của VKSND cấp cao tại HCM trong vụ Nguyễn Trọng Đ. Hướng thứ ba được xem là phương hướng có khả năng dung hòa giữa các mục tiêu, nhưng việc áp dụng trên thực tế vẫn phát sinh hạn chế nếu bản án tuyên “tịch thu 1/2 hiện vật”, đặt ra khó khăn cho cơ quan thi hành án do tài sản không thể phân chia cơ học. Trong thực tiễn ghi nhận trường hợp Quyết định Giám đốc thẩm số 17/2022/HS-GĐT ngày 14/02/2022 của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại TP. HCM (vụ Trần Phước Nh.). Việc Tòa án cấp dưới tuyên “tịch thu 1/2 chiếc xe ô tô chung” do đặc tính hiện vật không thể phân chia về mặt cơ học và khi đồng sở hữu chưa thống nhất việc bán đấu giá, cơ quan Thi hành án dân sự gặp khó khăn trong tổ chức thực hiện, dẫn đến việc Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại HCM xem xét hủy một phần bản án về phần xử lý vật chứng để giải quyết lại theo quy định.
Đi sâu đối chiếu quy định pháp luật và bản chất chế định sở hữu, có thể nhận diện vướng mắc lý luận cốt lõi mà thực tiễn xét xử đang gặp phải. Khi vật chứng là tài sản riêng của bị cáo hoặc tài sản của người thứ ba hoàn toàn độc lập, việc tịch thu toàn bộ (khi người thứ ba có lỗi) hoặc trả lại toàn bộ (khi người thứ ba ngay tình) tuân theo logic rất rõ ràng vì tài sản thuộc về một chủ thể riêng biệt. Tuy nhiên, đối đối với tài sản chung hợp nhất của vợ chồng, người vợ hoặc chồng không có lỗi chưa bao giờ là “người thứ ba” đứng ngoài khối tài sản, mà họ là đồng sở hữu ngay từ đầu với quyền sở hữu tồn tại song hành, không phân chia theo phần trong suốt thời kỳ hôn nhân theo Điều 213 BLDS năm 2015. Do đó, nếu diễn đạt “tịch thu 1/2 giá trị nộp ngân sách và trả lại/hoàn trả 1/2 giá trị cho người vợ” vô hình trung mượn đúng logic của tài sản thuộc sở hữu người thứ ba. Cách diễn đạt này ngầm giả định toàn bộ tài sản trước tiên thuộc diện bị tịch thu, sau đó Nhà nước “hoàn trả” một phần cho người vợ. Xét về bản chất pháp lý, do tài sản chung hợp nhất của vợ chồng không xác định theo phần trong thời kỳ hôn nhân, nên về nguyên tắc, phạm vi xử lý hình sự ngay từ đầu chỉ giới hạn ở đúng phần giá trị tương ứng với quyền sở hữu của bị cáo — phần này mới là đối tượng phát sinh nghĩa vụ tài chính nộp ngân sách nhà nước. Phần giá trị còn lại thuộc sở hữu của người không có lỗi chưa bao giờ thuộc phạm vi xử lý hình sự và không cần một phán quyết “hoàn trả”, mà chỉ cần được xác nhận là nằm ngoài phạm vi cưỡng chế thi hành án ngay trong bản án.
Từ những phân tích lý luận và thực tiễn nêu trên, để góp phần tháo gỡ vướng mắc và tạo sự áp dụng thống nhất, có thể cân nhắc một số định hướng hoàn thiện. Trong quy trình tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng cần tiếp tục chú trọng thực hiện Điều 90 BLTTHS, chủ động trưng cầu định giá tài sản ngay ở giai đoạn điều tra, truy tố để xác định giá trị thị trường của vật chứng làm căn cứ giải quyết. Khi có căn cứ xác định người đồng sở hữu không có lỗi, Tòa án nên tránh tuyên “tịch thu 1/2 hiện vật”, mà tuyên xác định giá trị phần tài sản thuộc sở hữu của bị cáo để buộc bị cáo thi hành nghĩa vụ nộp một khoản tiền tương ứng vào ngân sách nhà nước, đồng thời duy trì kê biên tài sản chung để bảo đảm thi hành án. Về cơ chế thi hành án, có thể xem xét bổ sung quy định cho phép người đồng sở hữu không có lỗi được quyền ưu tiên nộp khoản tiền tương ứng với phần nghĩa vụ tài chính của bị cáo vào ngân sách nhà nước trong thời hạn hợp lý do pháp luật quy định để giải tỏa kê biên tài sản hiện vật. Trường hợp người đồng sở hữu không thực hiện quyền nộp tiền hoặc không tự nguyện giao tài sản, cơ quan Thi hành án dân sự mới tiến hành xử lý bán đấu giá. Số tiền thu được cần được định hướng thanh toán theo thứ tự: chi phí thi hành án thực tế; nghĩa vụ nợ thế chấp hợp pháp theo Điều 213, 218 BLDS năm 2015; nghĩa vụ mua trả góp chưa thanh toán hết; trích nộp ngân sách đúng phần giá trị thuộc nghĩa vụ của bị cáo; phần giá trị còn lại được xác nhận thuộc quyền sở hữu của người không có lỗi và giải tỏa cho họ.
Về định hướng hoàn thiện quy phạm pháp luật, trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung BLTTHS và BLHS hiện nay, có thể xem xét bổ sung quy định cụ thể đối với trường hợp công cụ, phương tiện phạm tội thuộc sở hữu chung hợp nhất không thể phân chia mà người đồng sở hữu không có lỗi, Tòa án tuyên xác định giá trị phần tài sản thuộc sở hữu của người phạm tội quy đổi thành tiền để buộc bị cáo thi hành nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung quy định của Luật Thi hành án dân sự về căn cứ, thẩm quyền và trình tự cưỡng chế, định giá, bán đấu giá tài sản chung hợp nhất khi thi hành nghĩa vụ tài chính cá nhân phát sinh từ bản án hình sự.
Việc giải quyết vật chứng là tài sản chung của vợ chồng trong vụ án hình sự đòi hỏi sự dung hòa giữa yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu tư nhân. Qua đối chiếu quy định pháp luật và khảo sát thực tiễn áp dụng, có thể thấy việc chuyển hướng từ tước đoạt hiện vật sang xác định nghĩa vụ tài chính cá nhân của bị cáo trên cơ sở giá trị tài sản là hướng nghiên cứu phù hợp với bản chất của sở hữu chung hợp nhất. Việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện đồng bộ các quy định tố tụng hình sự, thi hành án dân sự và sớm ban hành hướng dẫn áp dụng thống nhất sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các cơ quan tiến hành tố tụng, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và quyền lợi hợp pháp của công dân.
Danh mục tài liệu tham khảo
- Viện kiểm sát nhân dân Tối cao (2023), Công văn số 2160/VKSTC-V14 ngày 05/6/2023 về việc giải đáp khó khăn, vướng mắc trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự.
- Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng (2024), Thông báo số 75/TB-VC2-V1 ngày 07/10/2024 về rút kinh nghiệm công tác kiểm sát xét xử vụ án hình sự bị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về biện pháp tư pháp.
- Tòa án nhân dân Tối cao (2024), Công văn số 176a/TANDTC-PC tháng 9/2024 về việc trả lời kiến nghị của cử tri gửi tới trước Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV.
- Nam Phong (2022), “Viện kiểm sát kháng nghị bản án tuyên xử lý vật chứng không đúng”, Báo điện tử Bảo vệ pháp luật (Chuyên mục Viện kiểm sát kháng nghị, kiến nghị), đăng ngày 21/10/2022
- Trần Văn Hùng. (2024, ngày 29 tháng 1). Xử lý vật chứng là tài sản chung trong các vụ án hình sự. https://tapchitoaan.vn/xu-ly-vat-chung-la-tai-san-chung-trong-cac-vu-an-hinh-su10248.html
- Việt Tiệp. (2024, ngày 23 tháng 10). Vướng mắc trong việc xử lý vật chứng là tài sản chung vợ chồng trong vụ án hình sự. http://toaandaklak.gov.vn/trao-doi-nghiep-vu/vuong-mac-trong-viec-xu-ly-vat-chung-la-tai-san-chung-vo-chong-trong-vu-an-hinh-su-9317.html
- Nguyễn Tứ. (2024). Vướng mắc về “xử lý vật chứng” là tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp một bên sử dụng vào việc phạm tội trong vụ án hình sự. https://lsvn.vn/vuong-mac-ve-xu-ly-vat-chung-la-tai-san-chung-cua-vo-chong-trong-truong-hop-mot-ben-su-dung-vao-viec-pham-toi-trong-vu-an-hinh-su-1710026062-a141661.html
- Nguyễn Văn Sửu. (2024, ngày 15 tháng 8). Những khó khăn vướng mắc trong việc xử lý tài sản của người phải thi hành án thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng. https://thads.moj.gov.vn/haiphong/tin-tuc/chi-tiet/nhung-kho-khan-vuong-mac-trong-viec-xu-ly-tai-san-cua-nguoi-phai-thi-hanh-an-thuoc-quyen-so-huu-su-dung-chung-cua-vo-chong-tdubt78e6c.html
- Huy Vũ. (2026). TANDTC đề xuất phương án xử lý vật chứng là tài sản chung trong quá trình xét xử.https://lsvn.vn/tandtc-de-xuat-phuong-an-xu-ly-vat-chung-la-tai-san-chung-trong-qua-trinh-xet-xu-a165015.html
- Dương Tấn Thanh . (2024). Xử lý vật chứng là tài sản chung của vợ chồng thế nào?https://kiemsat.vn/xu-ly-vat-chung-la-tai-san-chung-cua-vo-chong-the-nao-48983.html
PHAN HÒA HIỆP – Phòng 7 VKSND tỉnh Gia Lai





