Loạt chính sách mới về lương, bảo hiểm, bất động sản… có hiệu lực từ tháng 3/2026

Loạt chính sách mới về lương, bảo hiểm, bất động sản... có hiệu lực từ tháng 3/2026
Ảnh minh hoạ

Từ tháng 3/2026, nhiều chính sách mới có hiệu lực, nổi bật gồm chính sách mới về tiền lương, bảo hiểm xã hội, xoá đăng ký thường trú, về bất động sản…

Thực hiện tăng mức lương cơ sở, lương hưu từ tháng 3/2026

Đây là nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ nêu tại Công văn 38/TTg-QHĐP về triển khai thực hiện Nghị quyết tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV được ban hành ngày 9/1/2026.

Theo Phụ lục ban hành kèm theo Công văn số 38/2026, Thủ tướng Chính phủ đã hướng dẫn một số nhiệm vụ điều chỉnh lương cơ sở và các chế độ phụ cấp, được nêu cụ thể tại Nghị quyết số 265/2025/QH15.

Theo đó, trong tháng 3/2026, Chính phủ yêu cầu Bộ Nội vụ thực hiện việc điều chỉnh một số loại phụ cấp và mức lương cơ sở. Đồng thời, sẽ tiến hành điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công, trợ cấp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội, nhằm tiếp tục cải thiện đời sống cho người hưởng lương và các đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh xã hội.

Thêm trường hợp doanh nghiệp được tạm dừng đóng BHXH

Luật Phục hồi, phá sản 2025 được thông qua đã quy định doanh nghiệp được tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) khi đang áp dụng thủ tục phục hồi, có hiệu lực từ ngày 01/3/2026.

Cụ thể, căn cứ khoản 3 Điều 30 Luật Phục hồi, phá sản 2025, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi thì doanh nghiệp, hợp tác xã được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất.

Thời hạn tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất thực hiện theo quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Đồng thời, khoản 2 Điều 86 Luật Phục hồi, phá sản 2025 sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 37 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã được sửa đổi, mở rộng đối tượng được tạm dừng đóng BHXH như sau:

Khi người sử dụng lao động được áp dụng thủ tục phục hồi theo quy định của pháp luật về phục hồi, phá sản thì được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất trong thời gian tối đa 12 tháng.

Quy định mới về xoá đăng ký thường trú

Chính phủ mới đây ban hành Nghị định 58/2026 để sửa đổi, bổ sung một số nghị định, trong đó có Nghị định 154/2024 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật Cư trú áp dụng từ 15.3.2026.

Theo quy định tại Nghị định 58/2026, trong thời hạn 1 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hủy bỏ đăng ký thường trú của thủ trưởng cấp trên trực tiếp hoặc ngay sau khi ra quyết định hủy bỏ đăng ký thường trú đối với công dân, cơ quan đăng ký cư trú thực hiện việc xóa đăng ký thường trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký thường trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Thời hạn trên cũng được áp dụng với trường hợp Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ quan đăng ký cư trú tiếp nhận thông tin phản ánh về người thuộc trường hợp bị xóa đăng ký thường trú quy định tại điểm a, đ khoản 1 điều 24 luật Cư trú.

Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày hộ gia đình có người thuộc diện xóa đăng ký thường trú thì người thuộc diện xóa đăng ký thường trú hoặc đại diện hộ gia đình hoặc người đại diện theo pháp luật có trách nhiệm thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú.

Hồ sơ xóa đăng ký thường trú gồm tờ khai thay đổi thông tin cư trú và giấy tờ, tài liệu chứng minh thuộc một trong các trường hợp xóa đăng ký thường trú. Người thực hiện thủ tục nộp 1 hồ sơ trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) đến cơ quan đăng ký cư trú.

Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ thì cơ quan đăng ký cư trú thực hiện xóa đăng ký thường trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký thường trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Sau khi thực hiện việc xóa đăng ký thường trú, cơ quan đăng ký cư trú thông báo bằng văn bản giấy hoặc bản điện tử hoặc hình thức điện tử khác cho người bị xóa đăng ký thường trú hoặc đại diện hộ gia đình.

Ô tô phải đáp ứng kiểm định khí thải mới 

Từ 1/3/2026, quy định mới về kiểm định khí thải ô tô chính thức có hiệu lực. Cục Đăng kiểm Việt Nam cho biết, từ ngày 1/3, các trung tâm đăng kiểm trên cả nước sẽ thực hiện kiểm định khí thải xe ô tô theo quy trình và phương pháp kiểm tra mới, chặt chẽ và nghiêm ngặt hơn.

Cụ thể, từ ngày 1/3, áp dụng mức 1 đối với xe ô tô sản xuất trước năm 1999. Mức 2 đối với xe ô tô sản xuất từ năm 1999 đến hết năm 2016. Mức 3 đối với xe ô tô sản xuất từ năm 2017 đến hết năm 2021. Mức 4 đối với xe ô tô sản xuất từ năm 2022.

Để triển khai hiệu quả quy định mới, Cục Đăng kiểm Việt Nam yêu cầu các cơ sở đăng kiểm khẩn trương niêm yết công khai lộ trình áp dụng, mức khí thải, quy trình và phương pháp kiểm tra tại khu vực phòng chờ làm thủ tục kiểm định, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng theo dõi, nắm bắt thông tin.

Đồng thời, khuyến cáo chủ xe, lái xe chủ động bảo dưỡng, sửa chữa phương tiện trước khi đưa đi kiểm định như: thay dầu, thay lọc gió, vệ sinh buồng đốt, kiểm tra vòi phun, bơm cao áp, điều chỉnh tốc độ lớn nhất của động cơ theo đúng quy định của nhà sản xuất, kiểm tra hệ thống xử lý khí thải và cảm biến ô xy…

Chủ phương tiện cần sử dụng nhiên liệu, dầu bôi trơn và nước làm mát động cơ đúng theo khuyến cáo của nhà sản xuất để bảo đảm hiệu quả vận hành và kiểm soát khí thải.

Đối với các xe ô tô còn giấy chứng nhận đăng kiểm hợp lệ, phương tiện vẫn được phép lưu hành đến hết chu kỳ kiểm định hiện tại; quy định mới về kiểm tra khí thải sẽ được áp dụng từ kỳ kiểm định tiếp theo.

Vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ bị phạt đến 150 triệu đồng

Nghị định số 336/2025 có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, quy định mức xử phạt tối đa đối với vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ là 75 triệu đồng đối với cá nhân và 150 triệu đồng đối với tổ chức.

Các hành vi vi phạm bị xử phạt bao gồm: vi phạm quy định về sử dụng, khai thác đất dành cho kết cấu hạ tầng đường bộ; quản lý, vận hành, bảo trì công trình hạ tầng kỹ thuật dùng chung với đường bộ; thi công trong phạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng đường bộ; cũng như các vi phạm trong quản lý, khai thác và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

Quản lý bất động sản bằng mã định danh điện tử

Nghị định số 357/2025/NĐ-CP về xây dựng và quản lý hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản đã quy định gắn mã định danh cho sản phẩm bất động sản.

Cụ thể, Nghị định số 357/2025 ban hành và có hiệu lực từ ngày 31/12/2025 về xây dựng và quản lý hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản có mục II quy định các nội dung về mã định danh điện tử, tài khoản định danh điện tử.

Trong đó, từ Điều 8 đến Điều 12 quy định các mã định danh điện tử, bao gồm: mã định danh điện tử sản phẩm bất động sản là nhà ở; mã định danh điện tử sản phẩm bất động sản là phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng; mã định danh điện tử của đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư; mã định danh điện tử của chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản; mã định danh điện tử của cá nhân được thụ hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở.

Mã định danh điện tử sản phẩm bất động sản là nhà ở được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này gồm các nhóm trường thông tin: Mã định danh thửa đất;Mã số thông tin dự án, công trình xây dựng; Mã định danh địa điểm (nếu có); Dãy ký tự tự nhiên

Mã định danh điện tử sản phẩm bất động sản là nhà ở được tạo lập tự động trên hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản và Sở Xây dựng thực hiện gắn thông tin mã định danh điện tử sản phẩm bất động sản là nhà ở với các dự án phát triển nhà ở trên địa bàn cùng thời điểm ban hành văn bản thông báo về nhà ở đủ điều kiện bán nhà ở hình thành trong tương lai.

Sửa đổi quy định về bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo

Chính phủ ban hành Nghị định số 51 ngày 2/2/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2013 của Chính phủ quy định về bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo.

Nghị định số 51/2026 bổ sung Điều 7a về xóa hoặc miễn chi phí bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo (sau đây gọi chung là chi phí đào tạo) đối với người học chương trình giáo dục cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ được hưởng học bổng và chi phí đào tạo từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc do nước ngoài tài trợ theo Hiệp định ký kết với nhà nước Việt Nam mà không chấp hành sự điều động làm việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau khi tốt nghiệp.

Nghị định quy định trường hợp người học được xóa hoặc miễn chi phí bồi hoàn: Xóa chi phí bồi hoàn trong trường hợp người học đã chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết theo quy định của pháp luật; Miễn chi phí bồi hoàn một trong các trường hợp sau: Người học được cơ sở y tế có thẩm quyền xác nhận không đủ sức khỏe để làm việc; Người học chấp hành nghĩa vụ làm việc chưa đủ thời gian theo quy định nhưng sau đó được cơ quan có thẩm quyền quyết định điều động, luân chuyển, biệt phái hoặc chuyển công tác đến vị trí khác; Người học do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng nên không thể chấp hành sự điều động làm việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc bồi hoàn xem xét, quyết định việc miễn chi phí bồi hoàn đối với trường hợp này.

Cơ quan nhà nước hoặc thủ trưởng cơ quan quản lý người lao động có thẩm quyền quyết định việc bồi hoàn theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 143/2013 có thẩm quyền xem xét, quyết định việc xóa hoặc miễn chi phí bồi hoàn (cơ quan có thẩm quyền).

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 26/3/2026.

Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 31/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ có hiệu lực từ ngày 8/3/2026.

Nghị định này gồm 4 chương, 22 điều quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ, bao gồm: hành vi vi phạm hành chính về thực hiện nghiệp vụ lưu trữ và về hoạt động dịch vụ lưu trữ; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể của các chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực lưu trữ.

Đối với vi phạm quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lưu trữ, Nghị định quy định phạt tiền từ 20 đến 30 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: Truy cập, sao chép, chia sẻ trái phép tài liệu lưu trữ, cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Cung cấp, chuyển giao, hủy tài liệu lưu trữ trái phép hoặc mua bán, chiếm đoạt tài liệu lưu trữ mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Làm hỏng tài liệu lưu trữ đến mức không thể khôi phục được; Làm mất tài liệu lưu trữ; Sử dụng tài liệu lưu trữ vào mục đích bịa đặt, bôi nhọ, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của cá nhân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự…

                                                                                                Lê Trần – Theo Báo PLVN