Ngày 07/10/2026, Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể – Bộ Tài chính ban hành Văn bản số 3164/DNTN-GS đề nghị Sở Tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát, kiểm tra việc tuân thủ các quy định về kê khai thông tin chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp. Ngay sau đó, Sở Tài chính Thành phố Quảng Ninh đã ban hành Văn bản số 11059/STC-QLQN ngày 12/01/2026 yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện xác định, kê khai thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi, hoàn thành xong trước ngày 31/10/2026; sau thời hạn trên, nếu doanh nghiệp không chấp hành thì sẽ bị xử phạt hành chính.

Theo Điều 17, Điều 18 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 3, Điều 4 Nghị định số 296/2026/NĐ-CP, việc xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
1. Cá nhân sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên:
- Chủ sở hữu hưởng lợi là cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu, hoặc vừa trực tiếp vừa gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc từ 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của doanh nghiệp;
- Trường hợp nhóm cá nhân có quan hệ gia đình theo quy định của Luật Doanh nghiệp hoặc có hợp đồng cùng nhau sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp từ 25% trở lên vốn điều lệ hoặc từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp, các cá nhân trong nhóm được xác định là chủ sở hữu hưởng lợi;
- Đối với công ty hợp danh, tất cả thành viên hợp danh đều là chủ sở hữu hưởng lợi, không phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp hoặc quyền biểu quyết;.
2. Cá nhân có quyền thực tế chi phối doanh nghiệp:
Trường hợp không có cá nhân không đáp ứng tiêu chí sở hữu nêu trên, hoặc có căn cứ cho thấy cá nhân đáp ứng tiêu chí sở hữu không phải là chủ sở hữu hưởng lợi, doanh nghiệp xác định chủ sở hữu hưởng lợi thông qua các phương thức khác theo pháp luật hoặc trên thực tế. Việc kiểm soát được thông qua một hoặc nhiều các quyền sau: Quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng quản trị, đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng giám đốc; sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp; thay đổi cơ cấu tổ chức; quyết định chính sách tài chính, đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp; tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp.
3. Trường hợp không xác định được cá nhân theo 2 tiêu chí trên:
Doanh nghiệp xác định một cá nhân là người quản lý doanh nghiệp có quyền hạn lớn nhất để hành động thay mặt doanh nghiệp, trừ trường hợp cá nhân đại diện vốn nhà nước trong doanh nghiệp.
4. Trình tự kê khai thông tin chủ sở hữu hưởng lợi
Theo Điều 18 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 4 Nghị định số 296/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp thực hiện xác định và kê khai theo thứ tự:
Bước 1: Xác định cá nhân đáp ứng tiêu chí về quyền sở hữu.
Bước 2: Nếu không đáp ứng tiêu chí về quyền sở hữu hoặc có căn cứ cho thấy người được xác định không phải chủ sở hữu hưởng lợi, xác định cá nhân có quyền thực tế chi phối doanh nghiệp.
Bước 3: Nếu không có cá nhân đáp ứng hai tiêu chí trên, xác định người quản lý doanh nghiệp có quyền hạn lớn nhất theo quy định.
Doanh nghiệp có trách nhiệm rà soát từng cấp trong cơ cấu sở hữu cho đến khi xác định được cá nhân có quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát cuối cùng trên thực tế.
Minh Trang





