Nhận diện những khó khăn

Vùng biển Quảng Ninh đa dạng về địa hình, chất đáy, toàn tỉnh có hơn 2.077 hòn đảo lớn nhỏ, các đảo xen kẽ tạo nên những áng, tùng, vụng kín gió, ít chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới, nên rất thuận lợi cho hoạt động khai thác, NTTS. Là vùng biển kín, được bao bọc bởi hệ thống đảo ở phía ngoài, đáy biển tương đối bằng phẳng, độ sâu vừa phải, chất đáy chủ yếu là bùn, bùn cát phù hợp phát triển nuôi trồng, khai thác thủy sản quanh năm. Toàn tỉnh có hơn 6.000km2 mặt nước biển, trong đó 27.100ha bãi triều, chương bãi và các cồn rạn và trên 50.000ha mặt nước biển trải dài từ Quảng Yên (cũ) đến địa đầu Móng Cái (cũ), nổi trội là Vịnh Bái Tử Long, khu vực quần đảo Cô Tô, đây là lợi thế nổi trội để phát triển các hình thức NTTS lồng bè mà rất ít địa phương trong cả nước có được. Mặt khác, với diện tích vùng biển lớn, kín gió, nhiều đảo lớn nhỏ, nước biển trong, sạch được bao bọc bởi hệ thống đảo phía ngoài còn là điều kiện lý tưởng để phát triển nuôi biển theo hướng công nghiệp, công nghệ cao.
Những lợi thế trên đã đưa tỉnh trở thành là một trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước, nơi hội tụ nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế cao. Theo Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, toàn tỉnh xác định khoảng 95.147ha dành cho NTTS, trong đó riêng diện tích nuôi biển chiếm hơn 45.146ha.
Tuy nhiên, hoạt động nuôi biển tại các địa phương vẫn chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, tự phát, thiếu liên kết. Nhiều khu vực nuôi chưa tuân thủ quy hoạch, còn chồng lấn với luồng hàng hải, vùng du lịch, khu bảo tồn. Công tác quản lý gặp nhiều khó khăn khi tồn tại song song các hình thức nuôi có phép và không phép.
Số liệu kiểm tra cho thấy, thời gian qua, các lực lượng chức năng đã phát hiện khoảng 600 trường hợp vi phạm trong hoạt động NTTS trên biển, nhiều trường hợp nuôi trái phép, lấn chiếm không gian biển. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, mà còn gây mất trật tự trong khai thác, sử dụng tài nguyên biển.
Ở góc độ sản xuất, mô hình nuôi truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế. Hiện phần lớn cơ sở nuôi vẫn sử dụng lồng bè gỗ, thiết bị thô sơ, khả năng chống chịu sóng gió kém, hiệu quả sử dụng mặt nước chưa cao. Tỷ lệ ứng dụng công nghệ nuôi công nghiệp, nuôi xa bờ, tự động hóa, chuyển đổi số còn thấp. Đặc biệt, việc thiếu liên kết chuỗi khiến giá trị gia tăng của sản phẩm nuôi biển chưa tương xứng với tiềm năng.
Trong khi đó, yêu cầu của thị trường ngày càng cao, nhất là với các sản phẩm xuất khẩu. Các tiêu chuẩn về môi trường, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc đang trở thành “giấy thông hành” bắt buộc. Nếu không thay đổi phương thức sản xuất, nuôi biển khó có thể phát triển bền vững.

Để phát huy lợi thế kinh tế biển của Quảng Ninh, tại những hội thảo về kinh tế biển tổ chức tại Quảng Ninh, nhiều đại biểu đại diện Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cho rằng, việc hình thành các cụm công nghiệp nuôi biển được xem là lời giải căn cơ cho tỉnh. Không chỉ đơn thuần là tập trung các cơ sở nuôi, cụm công nghiệp nuôi biển còn là mô hình tổ chức sản xuất theo chuỗi, tích hợp từ nuôi trồng, chế biến đến tiêu thụ, dịch vụ hậu cần. Thông qua đó, không gian biển được tổ chức lại một cách khoa học, giảm thiểu xung đột sử dụng. Các doanh nghiệp có điều kiện đầu tư công nghệ cao, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Nhà nước cũng thuận lợi hơn trong công tác quản lý, giám sát và bảo vệ môi trường.
Rõ ràng, từ thực tiễn phát triển, từ yêu cầu của thị trường và từ mục tiêu phát triển bền vững, việc xây dựng cụm công nghiệp nuôi biển không còn là câu chuyện của tương lai, mà là nhiệm vụ của hiện tại.
Tạo đà cho doanh nghiệp nuôi biển lớn
Theo định hướng quy hoạch tỉnh đến năm 2050, NTTS biển được kỳ vọng đóng góp tới 80% tổng sản lượng NTTS. Mục tiêu đến năm 2030 là nuôi biển công nghiệp chiếm trên 75% sản lượng, với tốc độ tăng trưởng bình quân 8-10%/năm.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc hình thành các vùng nuôi tập trung – tiền đề của cụm công nghiệp nuôi biển – đang được tỉnh triển khai quyết liệt.
Hiện toàn bộ 45.146ha mặt nước nuôi biển đã được rà soát, tích hợp trong quy hoạch tỉnh. Trong đó, khoảng 31.146ha được ưu tiên sắp xếp cho các tổ chức, cá nhân đang nuôi trong phạm vi 3-6 hải lý, nhằm ổn định sản xuất và đưa hoạt động nuôi vào khuôn khổ quản lý. Phần diện tích còn lại được dành để thu hút đầu tư, phát triển các vùng nuôi công nghiệp, công nghệ cao.

Thực tế triển khai đã có những tín hiệu tích cực. Đến đầu năm 2026, tỉnh đã hoàn thành cấp phép cho 60/60 tổ chức, giao biển cho 56 tổ chức với hơn 4.562ha, hơn 1.000 cá nhân được bố trí khu vực nuôi theo quy định – đây là những “hạt nhân” quan trọng để hình thành các vùng nuôi tập trung. Song song với đó, công tác quy hoạch không gian biển được siết chặt theo hướng khoa học, đồng bộ. Định hướng giảm mật độ nuôi ven bờ, mở rộng ra vùng 3-6 hải lý đang dần được hiện thực hóa, tạo dư địa cho phát triển nuôi biển quy mô lớn.
Đặc biệt, tỉnh đang xúc tiến xây dựng Đề án phát triển NTTS biển theo hướng công nghiệp, hiện đại, với mục tiêu hình thành ít nhất 5 vùng nuôi tập trung tại các khu vực có lợi thế như Vĩnh Thực, Cái Chiên, Đầm Hà, Cô Tô và Vân Đồn.
Đặc biệt, tỉnh đang xúc tiến xây dựng Đề án phát triển NTTS trên biển tập trung theo hướng công nghiệp, hiện đại. Mục tiêu đề án hướng tới là kiến tạo không gian dư địa mới để phát triển lĩnh vực nuôi biển, đặc biệt là không gian biển xa bờ. Đề án xác định quy hoạch rõ vị trí, ranh giới và quy mô tối thiểu 5 vùng nuôi tại các khu vực có điều kiện thuận lợi, còn không gian và dư địa để phát triển nuôi biển, như: Vĩnh Thực, Cái Chiên, Đầm Hà, Cô Tô và Vân Đồn.

Sự tham gia của doanh nghiệp lớn được xem là yếu tố quyết định. Ngay khi tỉnh có chủ trương phát triển nghề nuôi biển ở đặc khu Cô Tô, Công ty CP Mực nhảy Biển Đông là một trong số những doanh nghiệp đầu tiên nộp đơn xin cấp phép. Đây cũng là doanh nghiệp đã xây dựng thành công hệ sinh thái nuôi biển với khoảng 13.000m2 lồng nuôi và hơn 151.000m3 nuôi tại vùng biển Ninh Thuận.
Theo hồ sơ, doanh nghiệp đề nghị giao biển với diện tích khoảng 209,8ha tại vùng biển đặc khu Cô Tô. Dự án được thiết kế theo mô hình nuôi biển công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao. Trong đó, phần lõi là hạ tầng bao gồm 20 lồng tròn HDPE đường kính 23m và 20 lồng vuông kích thước 6x6m, cùng hệ thống nhà điều hành, trạm điện nổi và cầu nối phục vụ vận hành.
Công ty CP Mực nhảy Biển Đông tập trung nuôi cá biển, nhuyễn thể, mực và rong biển. Đây là những nhóm sản phẩm có giá trị kinh tế cao, phù hợp với định hướng phát triển nuôi biển bền vững của tỉnh. Sản lượng dự kiến đạt khoảng 670.000 tấn/năm.
Qua đối chiếu các quy hoạch, định hướng phát triển liên quan, Sở NN&MT nhận định, khu vực đề xuất phù hợp với phương án sử dụng không gian biển và quy hoạch phát triển thủy sản của tỉnh và nằm trong định hướng phát triển NTTS biển của Cô Tô đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Ông Nguyễn Bá Ngọc, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Mực nhảy Biển Đông, chia sẻ: Chỉ sau hơn 3 tháng nộp hồ sơ, lãnh đạo tỉnh, các sở, ngành, địa phương hỗ trợ nhiệt tình để doanh nghiệp hoàn thành các hồ sơ, thủ tục theo quy định của pháp luật. Hiện tại về phần giao mặt nước biển chỉ còn thiếu ý kiến của Bộ Công an để UBND tỉnh có căn cứ ra quyết định giao mặt nước biển. Phía đặc khu Cô Tô cũng đang tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận quỹ đất ngắn hạn để làm khu trại giống, hậu cần nuôi trồng, chế biến sâu và văn phòng công ty trên khu đất quy hoạch hậu cần nghề cá. Doanh nghiệp mong muốn sớm được giao mặt nước để triển khai các hạng mục trước mùa mưa bão và hướng dẫn làm thủ tục thuê lâu dài với diện tích trên đất liền để doanh nghiệp yên tâm đầu tư công nghệ từ trại giống đến chế biến sâu, tạo việc làm ổn định cho cư dân trên đảo và tạo điểm đến tham quan du lịch gắn với nông nghiệp sinh thái biển tại đảo đầu tiên cả nước. Đồng thời tỉnh có hỗ trợ về việc thuế mặt nước, đất… cho doanh nghiệp tiên phong và hỗ trợ tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi. Vì gần 6 năm qua, doanh nghiệp vẫn chưa thể tiếp cận được nguồn vốn nào của ngân hàng hay các tổ chức tín dụng.
Nhiều doanh nghiệp khác cũng cho rằng, về lâu dài, việc phát triển cụm công nghiệp nuôi biển cần được đặt trong một tầm nhìn rộng hơn, đó là xây dựng hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại. Trong đó, nuôi biển là trung tâm, nhưng có sự kết nối chặt chẽ với dịch vụ hậu cần, chế biến, du lịch và nghiên cứu khoa học. Đồng thời, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý và sản xuất; xây dựng thương hiệu thủy sản biển Quảng Ninh; hoàn thiện cơ chế tài chính để thu hút đầu tư dài hạn.

Đáng chú ý, xây dựng và vận hành vùng NTTS biển tập trung là nhiệm vụ mới, có tính tổng hợp cao, liên quan đến quy hoạch không gian biển, hạ tầng kỹ thuật, công nghệ nuôi, bảo vệ môi trường và tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị. Vì vậy, cần sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị trong tỉnh, sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành, địa phương, cùng với sự hỗ trợ của Trung ương trong quá trình đầu tư xây dựng hạ tầng, hoàn thiện cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện, nhằm bảo đảm vùng nuôi biển tập trung hoạt động hiệu quả, bền vững và đúng định hướng chiến lược phát triển của tỉnh.
Từ một ngành sản xuất phân tán, nuôi biển, Quảng Ninh đang đứng trước cơ hội chuyển mình mạnh mẽ theo hướng công nghiệp, hiện đại. Khi những cụm nuôi biển dần hình thành, đó cũng là lúc thủy sản Quảng Ninh thực sự vươn mình ra biển lớn, không chỉ về không gian sản xuất, mà còn về giá trị và vị thế trên thế giới.
Lê Trần – Theo Báo Quảng Ninh





